
Chứng bất lực (Đây là tình trạng mất khả năng, thường là tạm thời, đạt tới hay duy trì sự cương cứng của cơ quan sinh dục nam. Nguyên nhân có thể là do các yếu tố về cấu tạo cơ thể, hoóc môn, thần kinh, hoặc tâm lý. Cũng có thể do tác dụng phụ của loại thuốc đang dùng hay loại chất đang lạm dụng).
Các vấn đề về tuyến tiền liệt (Tuyến tiền liệt có thể bị phì ra hay phát triển bất bình thường. Ngoài ra, tuyến tiền liệt còn có thể bị viêm gây đau đớn, khiến việc bài niệu gặp trở ngại).
Thoát vị khe (Trong bệnh này, phần trên của dạ dày đi vào trong xoang ngực qua một khe trong cơ hoành. Bệnh này thường gặp ở những người đàn ông tuổi trung niên hay cơ thể quá mập. Các triệu chứng bao gồm đau đớn và cảm giác nóng trong lồng ngực).
Thoát vị bẹn (tình trạng này xảy ra khi một phần ruột lồi ra qua phần yếu hay các lớp dưới của thành bụng.Thoát vị bẹn trực tiếp tạo một chỗ lồi ở vùng háng, trong khi thoát vị bẹn gián tiếp thì thòng xuống dưới bìu).
Thoát vị rốn (Tình trạng này thường gặp ở trẻ nhỏ, ở vùng rốn. Thông thường, nó sẽ tự mình điều chỉnh lại. Thoát vị rốn còn gặp ở người lớn, khi một phần ruột lồi ra ở ngay rốn).
Lâm Đại Ngọc

- Cảm lạnh (Các niêm mạc lót đường hô hấp trên, bao gồm cả mũi và họng, bị nhiễm siêu vi. Các triệu chứng thường gặp nhất là nghẹt mũi, sổ mũi, viêm xoang, đau cổ họng, hắt hơi, ho và đau đầu).
- Khó thở (là do sự thiếu hụt tính đàn hồi của phổi. Không khí bị ngưng tụ lại trong phổi và khiến nó căng phồng lên. Cơ hoành bị co thắt lại và nỗ lực để thở làm nghẹt lồng ngực của bạn).
- Viêm xoang (đây là tình trạng viêm hay phù nề niêm mạc lót các ổ xoang. Các triệu chứng thường gặp là xung huyết mũi, sổ mũi, đau đầu và đau ở vùng hàm trên, mắt, má hoặc tai).
- Viêm phế quản (chứng bệnh này do viêm nhiễm hay sự tăng tiết chất nhầy ở phế quản, đường dẫn khí từ phổi đến khí quản. Triệu chứng thường gặp là hơi thở đứt quãng, thở khò khè và ho).
- Hen suyễn (Ở chứng bệnh này, đường dẫn khí bị co thắt lại, gây nghẹt ngực và các cơn ho, thở khò khè và khó khăn. Sự viêm nhiễm các đường dẫn khí có thể trở thành mãn tính. Dị ứng và stress cũng có thể là nguyên nhân của hen suyễn).
Lâm Đại Ngọc

- Mệt mỏi trong thời gian kinh nguyệt (không phải là một căn bệnh, nhưng đôi khi nó có thể gây khó chịu cho bạn. Trong thời gian kinh nguyệt, bạn hãy tránh tập các tư thế đảo ngược hay đứng, và hãy thực hành các thế gập người về phía trước, vì chúng kiểm soát dòng chảy của máu và cản trở lượng máu ra quá nhiều. Các chuỗi bài tập sau đây sẽ đem lại lợi ích cho cơ thể của bạn_ tùy vào mức độ khó chịu, có thể tập 1 động tác Adhomukha Virasana thôi cũng được).
- Đau bụng khi hành kinh (các cơn co thắt ở vùng khung chậu ngay trước hoặc trong khi phụ nữ có kinh là do tử cung co thắt trong khi niêm mạc của nó bị tróc ra. Thường cơn đau có đi kèm cảm giác buồn nôn, đau đầu, đại tiện nhiều lần. Tập chuỗi động tác sau đều đặn sẽ cải thiện dần dần. Lưu ý: chuỗi này không tập lúc đang có kinh).
- Hội chứng tiền kinh nguyệt (Đây là trạng thái xuất hiện trước khi có kinh 3,4 ngày và sẽ dịu đi sau khi bắt đầu kỳ nguyệt san. Triệu chứng bao gồm tâm trạng nóng nảy, các cơn đau ở bụng, đau dưới thắt lưng và đau chân).
- Thời kỳ mãn kinh (Chu kỳ kinh nguyệt thường chấm dứt khi người phụ nữ vào khoảng 45 đến 55 tuổi. Nó có thể ngưng đột ngột hoặc sau một loạt các rối loạn kinh nguyệt. Việc chu kỳ kinh nguyệt chấm dứt gây ra các biến đổi về hoóc môn và có thể làm cho bạn đổ mồ hôi, bị các cơn bốc hỏa, trầm uất, mất ngủ và tâm trạng thất thường).
- Xuất huyết tử cung (Đây là tình trạng xuất huyết nhiều và bất thường giữa các kỳ kinh. Nguyên nhân do u nang hay u xơ tử cung, sảy thai, viêm tử cung, hay tử cung lệch).
- Bệnh huyết trắng (Quá nhiều huyết trắng xuất ra từ âm đạo có thể gây khó chịu và bối rối cho bạn. Nguyên nhân thường là do stress, có dị vật trong âm đạo, hay một chứng viêm nhiễm).
- Chứng rong kinh (Kỳ kinh nhiều bất thường hoặc kéo dài, cách nhau có thể không đều. Nguyên nhân có thể là do u xơ, mất cân bằng hoóc môn hay do bạn đặt vòng tránh thai. Kỳ rong kinh có thể kéo dài cho tới một tuần lễ, thường có đặc điểm là ra nhiều máu vón thành cục).
- Tắt kinh - còn được gọi là chứng vô kinh (sự không có hoặc ngưng có kinh) Trong chứng vô kinh tiền phát, chu kỳ kinh nguyệt hoàn toàn không xuất hiện. Trong chứng vô kinh thứ phát, chu kỳ kinh nguyệt bị ngừng lại trong ba kỳ hay nhiều hơn. Nguyên nhân là do tập luyện quá sức, stress hay rối loạn trong chế độ dinh dưỡng.
- Sa tử cung (Tình trạng này xảy ra khi cơ bắp và dây chằng của khung chậu trở nên yếu và chùng xuống, và kết quả là tử cung bị sa khỏi vị trí của nó. Nguyên nhân là do tuổi tác, béo phì hoặc sinh đẻ nhiều).
- Bệnh vô sinh (Đôi khi, sau một năm quan hệ chăn gối không áp dụng các biện pháp ngừa thai, người phụ nữ vẫn không thụ thai. Nguyên nhân là do sự mất quân bình về hoóc môn, các khối u, u nang, hoặc do mất chức năng phóng noãn, hay viêm nhiễm ở khung chậu).
Lâm Đại Ngọc

Hệ miễn nhiễm kém:
- Khi đó, khả năng miễn nhiễm của cơ thể bị mất quân bình, dẫn đến khả năng nhiễm bệnh cao. Triệu chứng bao gồm cả hiện tượng sụt cân, dễ bị viêm nhiễm, mệt mỏi, sốt và các căn bệnh ác tính.
Bệnh AIDS:
- Hội chứng suy giảm hệ miễn dịch do nhiễm virus HIV, tấn công vào hệ miễn nhiễm và khiến cho cơ thể con người trở nên rất dễ bị nhiễm các chứng bệnh hiểm nghèo. Chuỗi bài tập dưới đây có thể giúp làm giảm bớt một số các triệu chứng của căn bệnh này.
Lâm Đại Ngọc

Chứng béo phì (đây là tình trạng khi cơ thể tích tụ mỡ vượt quá 20% trọng lượng cần có của cơ thể. Chứng béo phì thường là do hội chứng Cushing, các rối loạn của cấu tạo dưới đồi, các yếu tố về gien, do dùng các loại thuốc có corticosteroide trong một thời gian dài, nạp quá nhiều năng lượng hoặc thiếu sự tập luyện thể thao).
Bệnh tiểu đường (đây là một bệnh rất phổ biến, có liên quan đến những rối loạn trong quá trình trao đổi chất. Các triệu chứng bao gồm: khát nước và đi tiểu liên tục, hay bị đói, sụt ký lô, và buồn nôn. Nguyên nhân là do tuyến tụy sản xuất insulin không đầy đủ).
Lâm Đại Ngọc